Phân tích chính sách công nghiệp trong nền kinh tế việt nam từ năm 1976
Tóm tắt luận văn thạc sĩ kinh tế
Dự án Cao Học Kinh Tế Phát Triển Việt Nam- Hà Lan
Người hướng dẫn khoa học:
1. Phó Tiến Sĩ Nguyễn Ngọc Mai: Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà nội
2. Thạc sĩ Vũ Kim Dũng: trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân Hà nội
Người nhận xét thứ nhất:........................................
Người nhận xét thứ hai:........................................
Luận án sẽ được bảo vệ tại hội đồng chấm luận
án Nhà nước tại dự án cao học kinh tế phát triển Việt Nam-Hà Lan, Trường Đại Học
Kinh Tế Quốc Dân vào hồi.......giờ.......ngày........tháng.............năm
1997.
Có thể tìm đọc luận án tại thư viện của dự án
cao học kinh tế phát triển Việt Nam-Hà Lan, gác 2, nhà 6, Trường Đại Học Kinh Tế
Quốc Dân, đường Giải Phóng, Hà nội.
Lời mở đầu
1. Cơ sở nghiên cứu của đề tài:
Công nghiệp hoá là một thành phần cốt yếu của
sự phát triển. Dễ hiểu là, tiến bộ về kinh tế và giảm bớt nghèo đói ở các nước kém
phát triển bao giờ cũng được gắn liền vơí quá trình công nghiệp hoá của họ. Sau
cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 2, nhiều nước kém phát triển đã thực hiện quá
trình công nghiệp hoá nền kinh tế của mình. Các kinh nghiệm thực tiễn chỉ ra rằng
công nghiệp hoá là một hướng đi đúng để phát triển nền kinh tế không chỉ ở phạm
vi một nước mà còn ở phạm vi nhiều nước trên thế giới. Tuy vậy, quá trình này được
thực hiện theo các cách khác nhau và với các mục tiêu khác nhau cho từng quốc gia.
Kết quả của quá trình công nghiệp hoá còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố chẳng hạn như
tổng sản phẩm quốc nội trên 1 người dân, số dân, các nguồn lực cũng như các điều
kiện khách quan.
Thực tế hiện nay, Việt nam là một nước có nền
kinh tế nông nghiệp là chủ yếu, đóng góp hơn 30% cho tổng sản phẩm quốc nội và có
khoảng hơn 60% lao động trong cả nước tham gia. nhưng tính đến thời điểm năm
1995, Việt nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới với thu nhập
nhập bình quân đầu người chỉ khoảng 250 đô la Mỹ.
Vào những năm đầu của thập kỷ 60, quá trình công
nghiệp hoá đã được thực hiện ở nước ta, song vì hai miền Bắc Nam đang bị chia cắt
nên quá trình này chỉ được thực hiện ở miền Bắc. Kể từ năm 1975 sau khi thống nhất
đất nước, Việt nam đã thực hiện quá trình công nghiệp hoá trên phạm vi cả nước.
Trong thời kỳ này, công nghiệp hoá được tiến hành theo mô hình công nghiệp hoá của
Liên Xô cũ. Thực tế cho thấy rằng, nền kinh tế nước ta trong giai đoạn đó đã gặp
phải rất nhiều khó khăn. Và thậm chí có những lúc, nền kinh tế Việt nam lâm vào
tình trạng khủng hoảng.
Vì thế, trước những khó khăn như vậy chính phủ
Việt nam đã thực hiện cuộc đổi mới kinh tế một cách có hiệu quả vào năm 1986 để
chuyển nền kinh tế nước ta từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh
tế theo hướng thị trường có điều tiết của chính phủ. Công cuộc đổi mới này được
đẩy mạnh vào năm 1989 nhằm mở rộng tự do nền kinh tế của mình và chuyển từ sản xuất
thay thế nhập khẩu sang sản xuất định hướng xuất khẩu. Trong thời gian này, nước
ta đã thực hiện một số các chính sách công nghiệp, vì vậy đã đạt được một số kết
quả đáng khích lệ về tăng trưởng kinh tế, và đã có những thay đổi nhất định về cấu
trúc của khu vực công nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nhằm phân tích các chính sách công nghiệp đã được
thực hiện trong quá trình công nghiệp hoá đất nước từ năm 1976 đến năm 1995. Trên
cơ sở đó, có những đánh giá về sự đóng góp của các chính sách này đến tăng trưởng
kinhh tế, và sự thay đổi cấu trúc của khu vực công nghiệp. Từ sự phân tích và những
đóng góp trên của các chính sách công nghiệp, có thể rút ra một vài nhận định cho
các nhà quyết sách trong nghiên cứu quy hoạch phát triển kinh tế nước ta.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Trong khuôn khổ lý thuyết cũng như các điều kiện thực tế khác, bản luận án này tập trung
vào giải quyết các câu hỏi sau:
1. Để đạt được tốc độ tăng trưởng cao của tổng
sản phẩm quốc nội, và cũng như sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, Việt nam có cần thiết thực hiện công nghiệp hoá
đất nước không?
2. ở nước ta, quá trình công nghiệp hoá định hướng
xuất khẩu được thực hiện tốt hơn công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu có
phải không?
3. Trong quá trình thực hiện các chiến lược công
nghiệp hoá đất nước, các chính sách công nghiệp đã tác động như thế nào đến nền kinh tế nước ta?
4. Để đảm bảo sự thành công của quá trình công
nghiệp hoá đất nước, chính phủ đã đóng góp những gì và can thiệp như thế nào?
4. Phạm vi nghiên cứu
Chính sách công nghiệp là những vấn đề rất rộng,
với thời gian có hạn luận án chỉ tập trung xem xét một vài chính sách chẳng hạn
như chính sách đầu tư và công nghệ; các định chế; và chính
sách thương mại. Hơn nữa, việc phân tích và đánh giá các đóng góp của các chính
sách này đến khu vực công nghiệp nói chung, công nghiệp quốc doanh và ngoài quốc
doanh, cũng như công nghiệp năng và công nghiệp nhẹ từ năm 1976 đến nay nhưng chỉ
tập trung chủ yếu vào giai đoạn từ năm 1986 đến 1995.
5. phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu so sánh
giữa lý thuyết về chính sách công nghiệp, thực tiễn của các nước với tính hình cụ
thể của Việt nam để đánh giá hiện trạng, xu thế, và các nguyên nhân tác động đến
quá trình phát triển của khu vực công nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
6. Nội dung của luận án
Ngoài phần mở đầu, bản luận án bao gồm bốn chương.
Bản tóm tắt chỉ nêu được những vấn đề chính ở mỗi chương như sau:
chương I
cơ sở lý thuyết về chính sách công nghiệp
Trong phần này luận văn trình bày cơ sở lý thuyết
của các chiến lược công nghiệp hoá, các chính sách công nghiệp, và các cách tiếp
cận của chính sách công nghiệp. Bởi vì các chính sách công nghiệp được phân tích
trong khuôn khổ của các quá trình công nghiệp hoá đất nước. Phần cuối của chương
này là phần các kinh nghiệm thực tiễn của các nước trong vùng như Mãlaixia, Thái lan, Hàn quốc về việc thực hiện quá trình
công nghiệp hoá của họ.
1. Các chiến lược công nghiệp hoá
Để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, luận văn này trình bày 3 chiến lược sau:
a. Chiến lược công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu (ISI)
Chiến lược này hướng nền sản xuất phục vụ cho
thị trường trong nước để thay thế các hàng hoá đã được nhập khẩu từ trước.
Chiến lược này sử dụng một số công cụ chính sách
chủ yếu như: thuế nhập khẩu, hạn mức nhập khẩu, các quota và giấy
phép nhập khẩu, chế độ tỷ giá hối đoái có lợi cho việc nhập khẩu
b. Chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất
khẩu (EOI)
Chiến lược này hướng nền sản xuất các hàng hoá
công nghiệp cho các thị trường nước ngoài.
Chiến lược này sử dụng một số công cụ chính sách
như: các công cụ bảo hộ dới dạng thuế, tỷ giá hối đoái, và lãi suất; trợ giá đầu
vào cho sản xuất và tín dụng cho các nhà sản xuất xuất khẩu; chế độ tỷ giá hối đoái
có lợi cho xuất khẩu; cũng như các yếu tố khác về thị trường và các can thiệp của
chính phủ.
c. Chiến lược cân bằng
Chiến lược này thực chất là một chiến lược kết
hợp các công cụ chính sách của hai chiến lược ISI và EOI trên. Chiến lược này sẽ
tận dụng được ưu điểm của chiến lược EOI và hạn chế được nhược điểm của chiến lược
ISI và ngược lại.
2. Chính sách công nghiệp
Chính sách công nghiệp là một khái niệm mới xuất
hiện cách đây chỉ vài chục năm, cho đến nay vẫn chưa được thống nhất. Bởi vì, nó
được hiểu và giải thích theo các cách khác nhau. nhưng trong khuôn khổ luận án này,
chính sách công nghệp bao gồm ba bộ phận chính sách như sau:
- Hệ thống các chính sách nhằm mục đích phát triển
nền công nghiệp của một quốc gia. Những chính sách này liên quan đến việc điều chỉnh
lại sản xuất và đầu tư, hiện đại hoá và tổ chức lại cấu trúc công nghiệp, thị trường
và vấn đề xuất nhập khẩu...
- Hệ thống các chính sách liên quan đến việc xác
định các ngành cụ thể cần thiết được khuyến khích nhằm huy động một cách có hiệu
quả các nguồn lực của quốc gia để đạt được mục đích tăng trưởng và phát triển cho
đất nước.
- Hệ thống các chính sách gắn liền với các thể
chế để khuyến khích phát triển các ngành đã được lựa chọn như: thuế, và các vấn đề liên quan đến tài chính....
3. Các cách tiếp cận của chính sách công nghiệp
Chính sách công nghiệp được xem xét và giải quyết
theo 4 phương pháp sau:
a. lương pháp thị trường tự do
phương pháp này được dựa trên giả thuyết về thông
tin là hoàn hảo và cho rằng thị trường hoạt động tốt hơn các tác động của chính
phủ.
b. phương pháp ủng hộ
phương pháp này cũng tin vào các u thế của thị
trường nhưng nhận biết được sự không hoàn hoả của thông tin. Vì thế, phương pháp
này chỉ ủng hộ phương pháp trên với các chính sách giúp cho thị trường hoạt động
tốt hơn và không thống nhất về các công cụ chính sách mang tính ớc muốn của thị
trường.
c. phương pháp tích cực
phương pháp này cho rằng cần phải có sự tham gia
của nhà nước nhiều và trực tiếp hơn vào khu vực công nghiệp Bởi vì họ cho rằng,
để phát triển một số ngành công nghiệp đã được lựa chọn thì chỉ có các can thiệp
của nhà nước mới có thể đảm bảo được sự hoạt động tốt cho chúng.
d. phương pháp kế hoạch hoá
phương pháp này thực chất là một phiên bản của
phương pháp tích cực nhưng với luận cứ mạnh mẽ hơn. phương pháp này cho rằng phúc
lợi có thể được cải thiện thông qua cơ chế kế hoạch hoá tập trung.
Trong khuôn khổ luận án, các chính sách công nghiệp
sau được tập trung phân tích:
- Chính sách đầu tư và công nghệ
- Các định chế
- Chính sách thương mại
Để đánh giá sự đóng góp của các chính sách trên
đến nền kinh tế nói chung và khu vực công nghiệp nói riêng, luận án này sử dụng
các tiêu chuẩn đánh giá sau:
1. Tăng trưởng kinh tế
2. Sự thay đổi cấu trúc của nền kinh tế và khu
vực công nghiệp
3. Khả năng tạo công việc cho người lao động
4. Cân bằng thương mại
4. Kinh nghiệm của các nước
a. Mã lai xi a
Mã lai xi a trải qua một thời kỳ của chiến lược
công nghiệp hoá theo hướng thay thế nhập khẩu vào những năm đầu của thập kỷ 60.
Trong thời kỳ này đóng góp của khu vực công nghiệp với GDP tăng từ 8.1% năm
1961 đến 13.4% năm 1970. nhưng đến thời điểm đó, thị trường trong nước đã đạt đến
điểm bão hoà. Các khả năng cho sản xuất thay thế nhập khẩu gần
như đã cạn kiệt. Các cơ hội về việc làm không còn đáp ứng
đủ nữa so với mức tăng của lao động. Vì vậy, chiến lược công nghiệp hoá định hướng
xuất khẩu đã được thực hiện vào đầu những năm 70 nhằm giải quyết những khó khăn
trên. Cụ thể là, đóng góp của khu vực công nghiệp vào GDP tăng từ 13.4% năm
1970 đến 22.4% năm 1980. Việc làm được tạo ra nhiều hơn so với thời kỳ trước. Xuất
khẩu các hàng hoá công nghiệp đã được tăng một cách đáng kể, ví dụ như hàng điện
tử tăng từ 2% năm 1970 đến hơn 42% năm 1980.
b. Thái lan
Thái lan đã thực hiện chiến lược công nghiệp hoá
theo hướng thay thế nhập khẩu trong thời kỳ từ năm 1961 đến 1971. Trong thời kỳ
này, sản xuất công nghiệp tăng nhanh với sự đóng góp vào GDP là 15.5% năm 1970.
nhưng do một số hạn chế của chiến lược này, mà sự tăng trưởng tiếp theo đã bị kìm
hãm bởi các giới hạn của thị trường nội địa. Do vậy, chiến lược công nghiệp hoá
định hướng xuất khẩu đẫ được bắt đầu thực hiện ở Thái lan vào những năm cuối của
thập kỷ 60. Sản xuất công nghiệp trong thời kỳ này tiếp tục tăng nhanh, đống góp
của công nghiệp vào GDP đã đạt được 22.7% năm 1975. Tỷ lệ hàng công nghiệp trong
tổng hàng hoá xuất khẩu đã tăng lên từ 6% năm 1970 đến 30% năm 1980. Việc làm cũng
được tạo ra nhiều hơn nhờ công nghệ sử dụng nhiều lao động được sử dụng cho sản
xuất xuất khẩu.
c. Hàn quốc
Chiến lược công nghiệp hoá theo hướng thay thế
nhập khẩu được thực hiện ở Hàn quốc vào nửa cuối của thập kỷ 50. Sau một vài năm
thực hiện chiến lược này, do sự mất ổn định về xã hội tăng trưởng của ngành công
nghiệp bắt đầu giảm và các cơ hội cho chiến lược này bị hạn chế, cán cân thanh toán
lâm vào tình trạng khủng hoảng năm 1963, trong lúc đó viện trợ từ Mỹ lại bị cắt
giảm một cách đáng kể. Vì thế, để khắc phục những klhó khăn trên chính phủ Hàn quốc
đã thực hiện chiến lược công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu và áp dụng các chính
sách nền kinh tế mở. Do đó trong thời kỳ 1965-1980, xuất khẩu công nghiệp tăng một
cách đáng kể với tốc độ tăng trưởng trung bình 40% mỗi năm từ 110 đến 15900 triệu
USD. Đóng góp của công nghiệp vào GDP là 27.1% năm 1975.
Các bài học kinh nghiệm của các nước Mã lai xi
a, Thái lan, và Hàn quốc trong việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá đất nước
cũng như trong việc sử dụng các công cụ chính sách rất bổ ích cho
Việt nam trong công cuộc công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
Chương II
Phân tích chính sách công nghiệp trong nền kinh tế việt nam từ năm 1976 đến năm 1985
Thời kỳ này nền kinh tế Việt nam là một nền kinh
tế dựa trên cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Việc phân tích chính sách công nghiệp
được gắn liền với các kế hoạch phát triển kinh tế. Vì vậy, chính sách công nghiệp
được phân tích theo 2 thời kỳ sau:
I. Thời kỳ từ năm 1976 đến năm 1980
Trong thời kỳ này, Đảng và Nhà nước ta đã chọn
chính sách phát triển kinh tế:ưu tiên phát triển công nghiệp nặng trên
cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ một cách hợp lý.
1. Phân tích chính sách công nghiệp
phương pháp kế hoạch hoá được dùng để xây dựng
hệ thống các chính sách công nghiệp nhằm thoả mãn các mục tiêu đề ra cho phát triển
kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng.
- Chính sách đầu tư và công nghệ: Trong giai đoạn
này, thiếu vốn đầu tư là một khó khăn lớn đối với nước ta. nhưng với chính sách
ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, nên đầu tư của Nhà nước phần lớn được tập trung
cho khu vực công nghiệp và nhất là các ngành công nghiệp nặng. Cụ thể là, tỷ lệ
tăng đầu tư cho khu vực công nghiệp là 12.3% mỗi năm so với chỉ có 4.4% cho khu
vực nông nghiệp. Tỷ lệ đầu tư cho công nghiệp tăng từ 37.1% năm 1976 đến 45% năm
1980. Trong lúc đó, tỷ lệ này lại giảm đi cho nông nghiệp từ 25.9% năm 1976 xuống
24% năm 1980. Phần lớn thiết bị và máy móc được nhập từ các nước Xã hội chủ nghĩa
với công nghệ lạc hậu và chất lượng thấp. Các chính sách liên quan đến khoa học
và công nghệ cho phát triển công nghiệp còn ở mức yếu kém. Nên tiến bộ về công nghệ
còn rất hạn chế.
- Các định chế: Nông nghiệp nước ta được quản
lý theo cơ chế xã hội chủ nghĩa. Trong hệ thống kế hoạch hoá, giá cả bị bóp méo
vì thế không phản ánh được sự khan hiếm thực tế trong toàn bộ nền kinh tế. Các xí
nghiệp công nghiệp có quy mô lớn đều được các Bộ trung ơng quản lý và kiểm tra
trực tiếp. Vẫn chưa có các khuyến khích trực tiếp cho người lao động dới dạng tiền
lương.
- Chính sách thương mại: ở thời kỳ này, tất cả
các hoạt động giao dịch thương mại đều bị ràng buộc bởi các quyết định của các cơ
quan quản lý Nhà nước và có thể được thực hiện ở một số rất ít các doanh nghiệp
thương mại nhà nước đặc biệt. Các quota được dùng làm công cụ chính để hạn chế nhập
khẩu. Thuế nhập khẩu chỉ tính cho các hàng hoá phi thương mại. Các doanh nghiệp
thương mại nhà nước được ủng hộ với tỷ giá hối đoái thích hợp, được cung cấp tín
dụng, cũng như các điều kiện huy động hàng hoá phục vụ cho mục đích thương
mại với các nước trong khối CMEA không chuyển đổi. Các cơ quan xuất khẩu phải đảm
bảo các hợp đồng với khối CMEA trước khi họ được phép xuất khẩu tới khối tiền tệ
chuyển đổi. Phần lớn các giao dịch thương mại này được dựa trên cơ sở trao đổi thương
mại. Các cơ quan xuất khẩu không được u tiên về chế độ tỷ giá hối đoái và giá thu
mua hàng hoá.
2. Đánh giá kết quả của chính sách công nghiệp
Nhìn chung trong thời kỳ này, tăng trưởng của
thu nhập quốc dân đạt ở tốc độ rất chậm. Có tình trạng đình đốn sản xuất ở khu vực
nông nghiệp. Công nghiệp phải đương đầu với khủng hoảng. Đến mức mà tốc độ tăng
trưởng công nghiệp chỉ đạt 1.0%. Vẫn chưa có sự thay đổi về cấu trúc của khu vực
công nghiệp. Việc làm được tạo ra ở mức thấp. Xuất khẩu thu được đã không cải thiện
được thâm hụt thương mại của quốc gia. Đây chính là những kết cục của mô hình phát
triển công nghiệp theo hướng u tiên công nghiệp nặng không thích hợp với điều kiện
Việt nam lúc bấy giờ. Chính sách đầu tư cho nông nghiệp và công nghiệp chưa được
hợp lý. Hơn nữa, chưa có những biện pháp khuyến khích để thúc đẩy phát triển sản
xuất công nghiệp cũng như các hạot động sản xuất khác trong nền kinh tế. Một đặc
điểm đáng chú ý trong thời kỳ này là tỷ lệ đầu tư cao cho công nghiệp nặng đi kềm
với sự giảm sản lượng đầu ra của công nghiệp và mức công suất không được sử dụng
tăng lên tương ứng.
II. Thời kỳ từ năm 1981 đến năm 1985
Để khắc phục các khó khăn kinh tế và các yếu điểm
của giai đoạn trước, chính sách công nghiệp đã được điều chỉnh lại cho phừ hợp hơn:
Mặc dù không còn ưu tiên trong chính sách phát triển, công nghiệp nặng vẫn
tiếp tục xây dựng một số ngành quan trọng. Trong nền kinh tế quốc dân, nông nghiệp
trở thành hàng đầu, trong lúc đó công nghiệp nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng được chú
ý trước. Còn đối với công nghiệp nặng, chỉ khuyến khích phát triển các ngành có
tác dụng hỗ trợ và thúc đẩy nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng.
1. Phân tích chính sách công nghiệp
phương pháp kế hoạch hoá được sử dụng để thiết
lập hệ thống các chính sách công nghiệp nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế
đã đề ra. Tuy nhiên, Nhà nước bắt đầu mở rộng quyền tham gia vào các hoạt động sản
xuất cũng như xuất nhập khẩu.
- Chính sách đầu tư và công nghệ: Đầu tư cho nông
nghiệp ở thời kỳ này vẫn không tăng so với thời kỳ trước. nhưng tỷ lệ tăng đầu tư
đã được cải thiện hơn. Trong khu vực công nghiệp, cấu trúc đầu tư cho các ngành
vẫn chưa thay đổi so với thời kỳ trước. nhưng hiệu quả sử vốn đã được cải thiện
hơn so với trước. Cụ thể là, hiệu suất sử dụng một đồng vốn tài sản cố định giảm
đi chỉ có 4.1% trong 5 năm 1981-1985, trong lúc đó nó bị giảm tới 15.3% trong thời
kỳ 1976-1980. Do vậy, đã có những ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng của khu vực
công nghiệp. Còn về vấn đề công nghệ, vẫn tồn tại vấn đề như ở thời kỳ trước. Máy
móc thiết bị được nhập khẩu và được sử dụng trong công nghiệp đều với công nghệ
lạc hậu và chất lượng không cao.
- Định chế: trong sản xuất nông nghiệp đã áp dụng
một hình thức mới đó là hệ thống khoán sản phẩm nhằm thúc đaảy sản xuất. Cơ chế
quản lý trong công nghiệp đã được nới lỏng hơn so với thời kỳ trước. Sự nới lỏng
này được khởi đầu bằng nghị định 25-CP của chính phủ ban hành vào tháng giêng năm
1981 đối với công nghiệp quốc doanh. Theo nghị định này, các xí nghiệp quốc doanh
phải đăng ký các hoạt động sản xuất ngoài kế hoạch của họ, và phải u tiên cho các
hoạt động trong kế hoạch được giao. Nghị định này là cơ sở cho hệ thống với 3 kế
hoạch sản xuất đồng thời. Tình hình thực tế lúc bấy giờ cho thấy rằng sự bóp méo
giá cả đã được giảm bớt, khuyến khích vật chất cho người lao động đã được cải thiện
trong phạm vi một số xí nghiệp công nghiệp. Sự khác biệt về tiền lương đã được áp
dụng cho 19 xí nghiệp. Nhờ vậy mà, tốc độ tăng trưởng công nghiệp đã được tăng lên
từ 1.0% năm 1980 đến 9.9% năm 1985.
- Chính sách thương mại: Để khuyến khích xuất
khẩu, Nhà nước đã bắt đầu mở rộng quyền tham gia vào các hoạt động xuất nhập khẩu.
Cụ thể là, cho phép các nhà sản xuất xuất khẩu và các địa phương từng bớc tìm kiếm
nguồn cung cấp vật liệu và thiết bị máy móc phục vụ cho sản xuất của họ. Do vậy,
xuất khẩu thời kỳ này đã tăng lên một cách đáng kể từ 8% ở giai đoạn 1976-1980 đến
21% ở giai đoạn 1980-1985. Đặc biệt là các sản phẩm hải sản của nước ta cũng được
xuất khẩu nhiều hơn từ 3.3% năm 1980 đến 11.8% năm 1985.
2. Đánh giá kết quả của chính sách công nghiệp
So với thời kỳ trước, các kết quả thu được ở thời
kỳ này tương đối khả quan hơn. Tăng trưởng của tổng sản phẩm xã hội cũng như của
nông nghiệp đạt được tốc độ cao hơn so với trưóc. Đặc biệt là nền sản xuất công
nghiệp đã được phục hồi và đã đạt được mức tăng trưởng cao 9.9% năm 1985. Trong
khi đó ở thời kỳ trước tăng trưởng công nghiệp chỉ là 1.0% / năm. Việc điều chỉnh
lại cơ cấu u tiên giữa công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ cũng như giảm bớt sự
quản lý của Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp
vào những năm đầu của thập kỷ 80. Điều này được phản ánh qua mức tăng trưởng của
sản xuất công nghiệp trong giai đoạn 1981-1985 là cao hơn hẳn so với giai đoạn
1976-1980. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được những thay đổi đáng kể về cấu trúc của khu
vực công nghiệp. Đóng góp cho nền kinh tế, công nghiệp ngoài quốc doanh và công
nghiệp nhẹ vẫn tăng so với trước. Vấn đề tạo công việc cho người lao động vẫn chưa
được cải thiện. Nói chung, những cải thiện và thay đổi của các định chế đã đóng
vai trò rất tích cực trong việc tạo ra động lực cho sự phát triển của nông nghiệp,
công nghiệp cũng như các hoạt động liên quan đến thương mại.
chương III
phân tích chính sách công nghiệp trong nền kinh tế việt nam giai đoạn 1986-1995
Để khắc phục những khó khăn và giải quyết các
yếu điểm của thời kỳ trước, Việt nam đã thực hiện công cuộc đổi mới nền kinh tế
vào năm 1986 để chuyển nền kinh tế dựa trên cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế theo cơ chế thị trường. Công cuộc đổi mới này được đẩy mạnh vào năm
1989 nhằm mở rộng tự do nền kinh tế và thay đổi sản xuất công nghiệp từ thay thế
nhập khẩu sang định hướng xuất khẩu.
Chính sách công nghiệp đã gắn phát triển công
nghiệp với tổ chức lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lại cơ cấu đầu tư quy mô lớn
trên quan điểm là chính sách công nghiệp được chuyển từ ưu tiên công nghiệp
nặng sang thực hiện ba chương trình kinh tế chủ yếu: sản xuất lương thực thực phẩm,
hàng tiêu dùng, và hàng xuất khẩu. Theo quan điểm này, công nghiệp nhẹ và
công nghiệp chế biến thực phẩm sẽ được chú ý quan tâm hơn tạo ra nhiều hàng hoá
nhằm thoả mãn các nhu cầu của nhân dân, đảm bảo chế biến các sản phẩm nông-lâm-thuỷ
sản, tăng nhanh sản xuất hàng xuất khẩu của các hợp đồng phụ và tạo ra nhiều các
hàng hoá xuất khẩu khác. Các ngành công nghiệp nặng được phát triển theo hướng phục
vụ có hiệu quả cho phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và công nghiệp nhẹ.
I. Phân tích chính sách công nghiệp trong thời
kỳ đổi mới từ năm 1986
Trong thời kỳ này, phương pháp tích cực và ủng
hộ được dùng để xây dựng hệ thống các chính sách công nghiệp. Có sự tham gia của
Nhà nước vào khu vực công nghiệp nhiều hơn và trực tiếp hơn so với thời kỳ trước.
Cụ thể là, một số ngành đã được lựa chọn cho mục đích xuất khẩu được ủng hộ tài
chính để đẩy mạnh việc tái thiết lại và còn được bảo hộ với cạnh tranh bên ngoài
bằng công cụ thuế nhập khẩu cũng như các hàng rào phi thuế quan. Can thiệp của Nhà
nước đã cải thiện được việc phân bố và tôn trọng các quyền sở hữu nhằm thúc đâỷ
quá trình đổi mới kinh tế.
- Chính sách đầu tư và công nghệ: Đầu tư đã được
cải thiện với lượng vốn đầu tư tăng lên từ 9.0% năm 1986 đến 27.6% năm 1995 của
GDP. Thêm vào đó là sự đóng góp của vốn đầu tư nước ngoài với tỷ lệ tương đối cao
38.5% trong tổng đầu tư của nước ta năm 1995. Hệ thống tài chính đã có những ủng
hộ tích cực đáng kể thông qua tín dụng của các ngân hàng thương mại. Tuy nhiên,
đầu tư cho nông nghiệp vẫn ở mức thấp hơn so với công nghiệp, công nghiệp nặng được
đầu tư nhiều hơn so với công nghiệp nhẹ và đặc biệt là nguồn vốn đầu tư được tập
trung cho một vài công trình chủ yếu tương đối nhiều. Công nghệ vẫn còn là một vấn
đề cần được giải quyết. Nói chung, tình trạng chất lượng thiết bị kỹ thuật cho sản
xuất công nghiệp ở mức thấp. Cụ thể là 60% thiết bị máy móc của các ngành sản xuất
khác nhau là cũ kỹ và lỗi thời. Phần lớn các doanh nghiệp đều dùng các loại thiết
bị được sản xuất vào những năm 50 và vẫn chưa được đại tu lại.
- Các định chế: trong cơ chế định hướng thị trường,
một vài điều lệ được Nhà nước ban hành nhằm hạn chế sự can thiệp tới mức tối thiểu
đối với các hoạt động kinh doanh và tăng quyền tự trị cho các doanh nghiệp trong
hoạt động sản xuất của họ. Ví dụ như quyết định 217 của Hội đồng Bộ trưởng được
ban hành vào năm 1987. Trợ cấp giá và bù lỗ cho các doanh nghiệp đã giảm đi đáng
kể trong thời kỳ này. So với 30.6% ở thời kỳ 1981-1985, thì chỉ là 15.3% ở thời
kỳ 1985-1988. Và từ năm 1989, các hình thức trợ cấp của Nhà nước cho các doanh nghiệp
dới dạng nguyên vật liệu đầu vào giá thấp không còn tồn tại nữa. Tất cả các doanh
nghiệp phải hoạt động theo cơ chế thị trường. Giá cả bây giờ không còn bị áp đặt
bởi Nhà nước nữa nhằm xoá bỏ sự chênh lệch lớn giữa hệ thống giá cố định của Nhà
nước và giá của thị trường tự do. Hơn nữa đối với các tổ chức doanh nghiệp, Quốc
hội đã ban hành 2 luật quan trọng vào tháng 12 năm 1990. Đó là luật doanh nghiệp
tư nhân và luật công ty.
- Chính sách thương mại: Trong quá trình đổi mới,
Nhà nước đã bắt đầu giảm bớt các quy định và điều lệ trong lĩnh vực ngoại thương
và các doanh nghiệp đã được tự do và khuyến khích hơn trong thương mại với nước
ngoài. Các doanh nghiệp có thể ký kết các hợp đồng thương mại trực tiếp với các
hãng nước ngoài. Kể từ năm 1987, phần lớn các quota xuất khẩu lâu nay vẫn giành
cho các doanh nghiệp thương mại quốc doanh trong hệ thống quản lý cũ đã bị hạn chế.
Khu vực sản xuất tư nhân đã được cho phếp và khuyến khích tham gia vào các hoạt
động kinh tế kể cả các hoạt động trong lĩnh vực thương mại.
Các công cụ về thuế nhập khẩu trở nên quan trọng
hơn kể từ khi luật thuế nhập khẩu được áp dụng vào năm 1987. Theo luật này, thuế
nhập khẩu đã trở thành một công cụ chủ yếu để kiểm tra và điều hành ngoại thương.
Thực tế là, chế độ thuế nhập khẩu được thực hiện để khuyến khích xuất khẩu. Tỷ lệ
thuế cho phần lớn các hàng hoá xuất khẩu không cao hơn 5%. Tỷ lệ thuế cao
20-40% chỉ áp dụng cho các mặt hàng xuất khẩu chẳng hạn như gỗ lâm sản và kim loại quý hiếm. Hơn nữa để khuyến khích
sản xuất trong nước và đặc biệt sản xuất cho xuất khẩu, thuế cho các nguyên vật
liệu, máy móc và thiết bị được miễn giảm. nhưng nói chung, các công cụ chính sách
thương mại như quota, giấy phép xuất nhập khẩu cũng như thuế nhập khẩu của Việt nam được cải thiện đáng kể đều
theo hướng khuyến khích xuất khẩu. Trong đó, thuế nhập khẩu được dùng nhiều hơn
so với hạn ngạch nhập khẩu.
Tháng 3 năm 1989 Việt nam đã duy trì một hệ thống
tỷ giá hối đoái có nhiều mức khác nhau cho các giao dịch thương mại trong kế hoạch
trung ơng và cả ngoài kế hoạch. Cụ thể là, các tỷ giá khác nhau đều ở mức có lợi
cho nhập khẩu. Vì vậy để hỗ trợ các hoạt động xuất khẩu, tỷ giá đồng tiền đã được
phá giá cho các giao dịch thương mại trong khuôn khổ các kế hoạch trung ơng vào
tháng 9 năm 1988 từ 225 đồng Việt nam tương đương với 1 USD lên 900 đồng Việt nam.
Sau đó, tiếp tục được phá giá từ 4000 đồng Việt nam năm 1989 lên 11500 đồng Việt
nam 1USD năm 1992. nhưng sau đó do một vài lý do, tỷ giá lại được giảm từ 11500
đồng Việt nam 1 USD năm 1992 xuống 10750 VND năm 1993 và 10800 VND năm 1994. nhưng
đến năm 1995, tỷ giá lại được phá giá từ 10800 VND năm 1994 lên 11000 VND năm
1995. Do vậy, đã có những ảnh hưởng đến cấu trúc xuất khẩu của thời kỳ này.
II Đánh giá tác động của chính sách công nghiệp
Các chính sách công nghiệp được áp dụng đã đóng
góp đáng kể cho nền kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng.
Về mặt tăng trưởng kinh tế, GDP tăng một cách
đáng kể từ 3.7% năm 1987 lên 9.5% năm 1995, nông nghiệp tăng từ -0.6% năm 1987 lên
4.7% năm 1995, còn công nghiệp tăng từ 10.0% lên 13.9% tương ứng.
Về mặt thay đổi cấu trúc, có sự thay đổi cấu trúc
của công nghiệp trung ơng và công nghiệp địa phương. Cụ thể là, cấu trúc của công
nghiệp trung ơng bắt đầu chiếm u thế với 51% so với công nghiệp địa phương là
49% từ năm 1992. Trong khi đó, công nghiệp Nhà nước vẫn chiếm u thế trong nền kinh
tế từ 1986 đến 1995. Nó có xu thế tăng từ 64% năm 1986 đến 72% năm 1995. Giai đoạn
1990-1994, công nghiệp trung ơng có tốc độ tăng trưởng cao hơn công nghiệp địa
phương. Một điểm đáng chú ý nữa là, tốc độ tăng trưởng của công nghiệp tư nhân đạt
được khá cao với 10.9% năm 1994 so với 13.8% của công nghiệp Nhà nước, trong lúc
đó tỷ lệ tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước lại là 61% trong tổng tín dụng của
các ngân hàng thương mại. Mặc dầu công nghiệp nặng tăng nhanh hơn công nghiệp nhẹ
nhưng đóng góp cho tổng sản lượng của khu vực công nghiệp lại thấp hơn. Chỉ từ năm
1995, mới có sự cân bằng trong đóng góp của các ngành công nghiệp nặng và công nghiệp
nhẹ cho toàn khu vực công nghiệp.
Về mặt tạo công việc cho người lao động, vẫn chưa
có thay đổi đáng kể nào trong cấu trúc việc làm của công nghiệp so với các khu vực
kinh tế khác. Cụ thể là, công nghiệp chỉ đóng góp vào khoảng 10% công việc trong
giai đoạn 1986 - 1993.
Về mặt cán cân thương mại, tình hình thương mại
đã được cải thiện một cách đáng kể từ năm 1986 đến 1992. Cụ thể là, cân bằng thương
mại đã tăng từ -1366 triệu Rúp-USD năm 1986 đến 40 triệu Rúp-USD năm 1992.
Hơn nữa, phải kể đến vai trò và đóng góp của các
doanh nghiệp nhà nước, mặc dù còn nhiều tồn tại nhưng về mặt nào đó các doanh nghiệp
nhà nước đã khẳng định được vai trò chủ đạo của mình trong nền kinh tế quốc dân.
Cụ thể là, cơ cấu của công nghiệp Nhà nước tăng từ 56.3% năm 1985 đến 72% năm
1995. Trong thời gian này, doanh nghiệp nhà nước đã được cải tổ thông qua các quyết
định của chính phủ, đây chính là một bộ phận của hệ thống các chính sách công nghiệp.
Chương IV
Kết luận và các giải pháp chính sách
I. Kết luận
Dựa trên phân tích chính sách công nghiệp giai
đoạn 1976-1995 cũng như các đánh giá kết quả của việc thực hiện chính sách, có
một vài kết luận được rút ra như sau:
Trong giai đoạn 1976-1985, thực hiện các chính
sách công nghiệp đã đem lại một số kết quả tích cực. nhưng cũng nhận thấy rằng,
đây chỉ là những thành tích nhỏ của các biện pháp khắc phục đem lại chứ không phải
là kết quả của những thay đổi căn bẳn về chính sách. Chính sách công nghệ vẫn chưa
được xem xét một cách thích hợp. Tuy nhiên, những thành tích đạt được này đã góp
phần đáng kể cho việc thực hiện chính sách công nghiệp nói riêng và quá trình công
nghiệp hoá nói chung ở giai đoạn sau.
Giai đoạn 1986-1995, công nghiệp đã có những hoạt
động tốt hơn so với giai đoạn trước. Chính sách công nghiệp đã đóng góp tích cực
vào tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và công nghiệp. Nhà
nước đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra các định chế mềm dẻo và
thích hợp hơn cũng như trong việc phát triển hệ thống tài chính nhằm đáp ứng tốt
hơn cho quá trình phát triển, Những cải cách này đã đóng góp một cách đáng kể vào
sự phát triển của nền kinh tế nói chung và công nghiệp nói riêng. Tuy nhiên vẫn
còn tồn tại vấn đề về đổi mới công nghệ để phục vụ sản xuất
ở giai đoạn trước. Hơn nữa, chất lượng hàng hoá còn thấp,
được sản xuất với công nghệ lạc hậu. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là các mặt hàng
nông sản. Cơ cấu sản xuất chưa được chuyển dịch nhanh để đáp ứng được các mục tiêu
đề ra.
Trong thời gian tới, để tăng thu nhập và theo
kịp các nước phát triển khác, Việt nam cần phải tiến hành công nghiệp hoá đất nước.
II. Các ý kiến đề xuất
Dựa vào phân tích chính sách công nghiệp trong
chiến lược công nghiệp hoá từ ISI đến EOI giai đoạn 1976-1995, cũng như tham khảo
kinh nghiệm thực tiễn của các nước như Mã lai xi a, Thái lan, và Hàn quốc, để đáp
ứng các mục tiêu phát triển kinh tế nước ta với mức tăng trưởng GDP khoảng
9-10%, tăng gấp đôi GDP bình quân cho một người so với năm 1990, tăng trưởng trung
bình hàng năm của công nghiệp là 14-15% trong giai đoạn tới 1996-2000, Việt nam
nên thực hiện các biện pháp sau đây:
- Chiến lược kết hợp ISI và EOI có thể được xem
xét cho việc thực hiện quá trình công nghiệp hoá trong giai đoạn tới. Trong đó,
công nghiệp hoá định hướng xuất khẩu được phát triển nhằm mục đích hỗ trợ và thúc
đẩy sản xuất trong nước.
- Cần thiết xây dựng cơ cấu phát triển các ngành
công nghiệp hợp lý để tạo nên một cơ sở công nghiệp cho phát triển công nghiệp ở
giai đoạn sau với hàm lượng vốn và công nghệ cao hơn. Chính sách đầu tư và đổi mới
công nghệ được quan tâm hơn cho khu vực công nghiệp, đặc biệt đối với các ngành
công nghiệp chế biến thì mới có thể tăng được năng suất lao động hơn nữa. Các ngành
công nghiệp có khả năng tạo được công việc cho người lao động cũng được quan tâm
hơn nữa để giải quyết vấn đề thát nghiệp ở nước ta.
- Việc phân bố các nguồn lực nên dựa theo cơ chế
thị trường. Trong nền kinh tế định hướng theo cơ chế thị trường, Nhà nước sẽ đóng
vai trò rất quan trọng để bảo đảm sự công bằng cho các khu vực và thành phần kinh
tế cũng như tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân được bình đẳng
cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh.
- Để khuyến khích phát triển công nghiệp và đảm
bảo sự thành công của quá trình công nghiệp hoá, Việt nam cần phải duy trì sự ổn
định kinh tế vĩ mô cũng như ban
hành các thể chế và các nguyên tắc cho các hoạt động kinh doanh. Thêm vào đó, các
biện pháp khuyến khích và thúc đẩy được dùng nhiều hơn so với các công cụ bảo hộ
và kiểm soát trong lĩnh vực quản lý kinh tế nhằm đẩy mạnh sản xuất công nghiệp.
- Nhằm khuyến khich sản xuất xuất khẩu, Nhà nước
cần tạo điều kiện giúp đỡ các tổ chức xuất khẩu với các hình thức như trợ giúp kỹ thuật, quảng cáo thị trường, và bảo hiểm xuất
khẩu. Thực hiện các biện pháp thu hút vốn đầu tư nước ngoài nhưng nên tập trung
vào các ngành công nghiệp xuất khẩu. Một vài trò quan trọng khác nữa của Nhà nước
là xây dựng cơ cấu công nghiệp đa dạng với công nghệ hiện đại, nhưng cũng cần có
một lượng vốn đầu tư lớn cho phát triển cơ sở hạ tầng và các công trình khác nữa
trong nền kinh tế, có như thế mới tạo được động lực cho tăng trưởng trong những
năm tới. Đầu tư cho giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực dồi dào của nước ta cũng
là một vấn đề rất quan trọng và cần được quan tâm chú trọng hơn nữa trong giai đoạn
tới. Chính sách này nhằm nâng cao trình độ và kỹ năng cho cán bộ và người thợ để
đáp ứng các yêu cầu cho sản xuất và phát triển kinh tế.
- Để mở rộng xuất khẩu hàng hoá cho một số ngành
sản xuất có lợi thế tương đối như dệt và may mặc, nên chú ý hơn đến vấn đề nâng
cao chất lượng và mẫu mã sản phẩm. Vì vậy, các yếu tố về công nghệ là rất quan trọng
để thoả mãn mục tiêu này.
Việc thực hiện và điều chỉnh các chính sách công
nghiệp trong giai đoạn vừa qua với chiến lược EOI mới chỉ là bớc đầu tiên mà còn
phải tiếp tục trong thời gian tới. Cuối cùng, hy vọng rằng công nghiệp Việt nam
sẽ thành công trong chiến lược tăng trưởng định hướng xuất khẩu và đóng góp nhiều
hơn cho nên kinh tế nước ta.